Theo đó, thời
gian lập quy hoạch chung đô thị đối với thành phố thuộc Trung ương hoặc lập
nhiệm vụ quy hoạch chung không quá 3 tháng và lập đồ án không quá 15 tháng; đối
với thành phố thuộc tỉnh, thị xã, đô thị mới, thời gian lập nhiệm vụ quy không
quá 2 tháng, và lập đồ án không quá 12 tháng. Đối với thị trấn, thì thời gian
lập nhiệm vụ không quá 1 tháng và lập đồ án không quá 9 tháng.
Tổ chức tư vấn,
cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị phải có đủ điều kiện năng lực theo quy
định của Nghị định này hoặc quy định pháp luật hiện hành về điều kiện năng lực
của tổ chức tư vấn, cá nhân thiết kế quy hoạch xây dựng; cá nhân thiết kế quy
hoạch đô thị phải có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với công việc đảm
nhận.
Việc lựa chọn tổ
chức tư vấn lập quy hoạch đô thị thông qua hình thức chỉ định thầu. Khuyến
khích việc lựa chọn tư vấn thông qua hình thức thi tuyển đối với quy hoạch
chung các đô thị có quy mô lớn, có ý nghĩa đặc thù, quy hoạch phân khu, quy
hoạch chi tiết các khu vực có ý nghĩa quan trọng trong đô thị.
Đồng thời Nghị
định cũng nêu ra những nguyên tắc lập quy hoạch đô thị, cụ thể: quy hoạch chung
của thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, thị xã, thị trấn, đô thị mới phải
đảm bảo phù hợp với Định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia.
Đối với những dự
án do một chủ đầu tư tổ chức thực hiện có quy mô nhỏ hơn 5 ha (nhỏ hơn 2 ha đối
với dự án đầu tư xây dựng nhà ở và chung cư) thì có thể lập dự án đầu tư xây
dựng mà không phải lập quy hoạch chi tiết.
Nghị định này có
hiệu lực kể từ ngày 25/5/2010, và thay thế các quy định về quy hoạch xây dựng
các đô thị và các khu vực trong đô thị của Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày
24/1/2005 của Chính phủ về Quy hoạch xây dựng.